Người đàn bà ra tòa vì "quan hệ" với nam thiếu niên 15 tuổi

0 ANTĐ
ANTD.VN - Em Hoàng Anh K (15 tuổi) mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống cùng bố nuôi là ông Đinh Văn T. Gần đây ông T phát hiện em K có nhiều hành động lén lút. Trong một lần K bỏ đi khỏi nhà, ông T đi tìm và thấy cháu K đang lưu trú tại một nhà nghỉ. Qua nói chuyện ông T được biết, trong thời gian bỏ nhà đi lang thang K gặp bà Trần Thị M (50 tuổi, là hàng xóm của gia đình). K được bà M cho tiền và chở đi mua sắm quần áo. Sau đó bà M đã chở K về nhà nghỉ và quan hệ tình dục với em. Sau khi phát hiện vụ việc, ông T đã làm đơn tố cáo bà M tới cơ quan công an. Vấn đề đặt ra là trong vụ việc này bà Trần Thị M đã phạm tội gì?

ảnh 1(Ảnh minh họa)

Ý kiến bạn đọc

Phạm tội hiếp dâm

Theo quy định của pháp luật, ngoài việc sử dụng vũ lực, nếu chủ thể trong trường hợp này “ép” nạn nhân bằng cách dùng “thủ đoạn khác” để giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ thì bị coi là tội phạm và chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trong vụ việc này bà M đã dùng thủ đoạn cho tiền và chở em Hoàng Anh K đi mua sắm quần áo, sau đó có quan hệ tình dục trái với ý muốn của K. Theo tôi, bà Trần Thị M đã phạm tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015.

Vũ Anh Tuấn (Đà Lạt - Lâm Đồng)

Không phạm tội

Theo tôi, trong vụ việc này bà Trần Thị M không phạm tội. Trên thực tế có thể thấy việc nữ giới cưỡng ép nam giới giao cấu trái ý muốn của họ rất khó xảy ra so với nam giới cưỡng ép nữ giới. Bởi về góc độ sinh học thì nam giới không thể giao cấu khi mà họ không chủ động. Và khi nam giới không chủ động thì thì nữ giới không thể tự thực hiện hành vi này được. Việc em Hoàng Anh K đồng ý vào nhà nghỉ và có quạn hệ tình dục với bà M hoàn toàn là do sự tự nguyện. Còn việc bà M mua quần áo và cho tiền em K xuất phát từ tình cảm chứ không phải là thủ đoạn. Ở đây, việc quan hệ tình dục là do sự đồng thuận của cả 2 người. Do vậy, theo tôi hành vi của bà M không được coi là tội phạm.

Vũ Thị Thuý (Vị Xuyên - Hà Giang)

Phạm tội cưỡng dâm

Tôi cho rằng, bà Trần Thị M đã phạm tội Cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi theo Điều 144 Bộ luật Hình sự 2015. Theo quy định của pháp luật về “Tội cưỡng dâm” thì hành vi được cho là cưỡng dâm khi “người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc vào mình hoặc người đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu”. Trong vụ việc này, khi em Hoàng Anh K bỏ nhà ra đi đã được bà M cho tiền và mua quần áo. Như vậy có thể coi em K đã lệ thuộc vào bà M. Sau đó thông qua thủ đoạn này bà M đã dụ dỗ K quan hệ tình dục với mình. Điều này khiến cho K đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu với bà M. Như vậy, theo tôi bà M đã phạm tội cưỡng dâm đối với em K và cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật.

Nguyễn Quốc Hùng (Hai Bà Trưng - Hà Nội)

Bình luận của luật sư

Từ trước đến nay, nhiều người có thói quen nghĩ rằng những tội xâm phạm nhân phẩm con người như hiếp dâm, cưỡng dâm, dâm ô… thì người bị hại phải là nữ giới, chủ thể phạm tội phải là nam giới. Tuy nhiên, đó chỉ là cách nhìn nhận chịu ảnh hưởng của văn hóa Á đông, và dựa vào đặc tính sinh học của người nam giới là có sức khỏe, thường là phía chủ động trong vấn đề tình dục… Trong khi đó, ở nhiều nước phương Tây, việc tòa án đem ra xét xử các bị cáo là nữ giới về loại tội danh vừa nêu là điều bình thường.

Theo Bộ Luật hình sự Việt Nam, tại Chương XIV, quy định “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” thì không có quy định về loại tội phạm nào phân biệt chủ thể phạm tội phải là nam giới, bị hại phải là nữ giới. Như vậy, bất cứ người nào có hành vi được miêu tả theo quy định đã được viện dẫn ở trên, có đầy đủ các dấu hiệu khác về mặt chủ quan, khách quan, chủ thể, khách thể tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Pháp luật không phân biệt chủ thể của tội này là nam hay nữ nên cần hiểu chủ thể của tội hiếp dâm có thể là nam hoặc nữ. Pháp luật quy định về tội hiếp dâm như sau: Chỉ cần người đó có hành vi “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân” thì bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự. 

Đối với ý kiến cho rằng bà Trần Thị M đã phạm tội hiếp dâm em Hoàng Anh K, về mặt lý luận định tội danh, khả năng để phụ nữ trở thành chủ thể của tội hiếp dâm có thể được đặt ra trong 2 trường hợp. Thứ nhất: Phụ nữ dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu, hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân. Thứ hai: Phụ nữ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trong trường hợp đồng phạm.

Trên thực tiễn xét xử thời gian qua, chủ thể tội hiếp dâm chủ yếu là nam giới. Cụ thể, nam giới mới là người thực hành trong tội hiếp dâm còn phụ nữ chỉ tham gia với vai trò là đồng phạm bởi đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân thường là nam giới, phụ nữ khó có khả năng thực hiện các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực vì xét về sức mạnh cũng như cấu tạo cơ thể không bằng nam giới.

Hơn nữa, việc nữ giới cưỡng ép nam giới giao cấu trái ý muốn của họ khó xảy ra hơn so với nam giới bởi để thực hiện được những hành vi này, trong một số trường hợp phải dùng sức mạnh cơ học, mà nữ giới thường sẽ hạn chế hơn nam giới. Ngoài ra, về góc độ sinh học thì nam giới không thể giao cấu khi mà họ không chủ động. Và khi nam giới không chủ động thì thì nữ giới không thể tự thực hiện hành vi này được. Tuy nhiên, trong thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, hành vi dùng “thủ đoạn khác” để giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ (ví dụ cho uống thuốc kích dục) vẫn có thể được thực hiện bởi nữ giới và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Trở lại nội dung vụ việc, có thể thấy bà M không hề có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân, hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của em K. Việc em K theo bà M về nhà nghỉ và quan hệ tình dục với bà M là do em K tự nguyện. Vì vậy, theo chúng tôi trong vụ việc này bà M không không phạm tội Hiếp dâm.

Về ý kiến cho rằng bà M phạm tội Cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi theo Điều 144 Bộ luật Hình sự 2015. Người bị hại trong vụ án cưỡng dâm cũng có thể là nam giới, nhưng chủ yếu là nữ giới. Tuy nhiên, dù là nam hay nữ, thì họ phải là người lệ thuộc vào người phạm tội, nếu không phải là người bị lệ thuộc thì cũng phải là người đang ở trong tình trạng quẫn bách. Người bị lệ thuộc vào người phạm tội cũng giống như sự lệ thuộc trong các tội Hành hạ người khác, tội Bức tử, bao gồm sự lệ thuộc về tinh thần cũng như lệ thuộc về mặt vật chất bắt nguồn từ nhiều quan hệ khác nhau như: cha với con, thầy với trò, thầy thuốc với bệnh nhân, cha cố với con chiên...

Người ở trong tình trạng quẫn bách là người tuy không có mối quan hệ lệ thuộc với người phạm tội, nhưng do nhiều nguyên nhân họ rơi vào trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu với người phạm tội, người rơi vào trong tình trạng này không còn sáng suốt lựa chọn một xử sự bình thường như những người khác hoặc trong lúc bình thường khác. Dù là người bị lệ thuộc vào người phạm tội hay người ở trong tình trạng quẫn bách thì việc họ giao cấu với người phạm tội là do miễn cưỡng.

Sự miễn cưỡng của người bị hại là ý thức chủ quan của họ, nên trong nhiều trường hợp việc xác định nó không phải bao giờ cũng dễ dàng. Vì vậy, để xác định người bị hại có miễn cưỡng giao cấu với người phạm tội hay không cần phải căn cứ vào các tình tiết khách quan của vụ án mà đặc biệt là mối quan hệ lệ thuộc giữa người bị hại với người phạm tội, hoàn cảnh lúc xảy ra việc giao cấu. Trong vụ việc này quan hệ giữa em K và M không phải là quan hệ lệ thuộc và khi gặp bà M, em K cũng không ở trong tình trạng quẫn bách. Do đó theo chúng tôi bà M không phạm tội cưỡng dâm.

Căn cứ vào nội dung vụ việc, theo chúng tôi có cơ sở để khẳng định bà T đã phạm tội Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo Điều 145 Bộ Luật Hình sự 2015. Theo quy định của pháp luật, tội Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là hành vi của một người đã thành niên quan hệ tình dục bằng hình thực giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được các em thuận tình.

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi của người đã thành niên giao cấu với trẻ em trong độ tuổi này, có sự thuận tình của các em. Các em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý và sức khỏe, nhất là cơ quan sinh dục, do đó giao cấu với đối tượng này sẽ gây nguy hiểm cho sự phát triển bình thường của các em, đặc biệt, gây tác hại đến sự phát triển đạo đức, nhân cách của các em, ảnh hưởng đến danh dự, phẩm giá của các em cả hiện tại và sau này. Ở lứa tuổi này, các em còn hạn chế về nhận thức, kinh nghiệm sống nên việc quyết định tình dục không được đúng đắn, dễ cảm tình, bị rủ rê.

Có thể thấy, đối chiếu với quy định trên thì bất cứ đàn ông hay đàn bà đã là người thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) mà lại giao cấu với trẻ em khác giới ở tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đều phạm tội. Điều luật này muốn bảo vệ đối tượng bị hại đang ở độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi để không bị xâm hại về tình dục. Mặt khác, luật cũng không phân biệt đó là trẻ em gái hay trẻ em trai nên có thể hiểu là cứ bị người thành niên khác giới xâm hại về tình dục là được pháp luật bảo vệ.

Do chủ thể của tội giao cấu với trẻ em không phân biệt là nam hay nữ và nếu đủ điều kiện quy định của điều luật thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, trong trường hợp này hành vi của bà T đã phạm tội  Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Luật sư Đoàn Mạnh Hùng, Văn phòng luật sư Hùng Mạnh

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top