Không có "sổ đỏ" vẫn được "sang tên" trong những trường hợp nào?

0 H.L
ANTD.VN -Thông thường, người dân sau khi nhận chuyển nhượng, tặng cho hoặc thừa kế nhà đất muốn thực hiện đăng ký biến động (còn gọi là sang tên) phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà (sổ đỏ). Tuy vậy, theo quy định hiện hành, vẫn có một số trường hợp không có “sổ đỏ” vẫn được mua bán, chuyển nhượng nhà đất.

Đối với nhà ở, theo Khoản 2 Điều 118 Luật Nhà ở 2014, giao dịch về nhà ở không bắt buộc phải có Giấy chứng nhận gồm: Mua bán, thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai; Mua nhà ở xã hội, nhận thừa kế nhà ở…

- Trường hợp nhận thừa kế nhà ở

Với trường hợp này, dù không bắt buộc phải có Giấy chứng nhận nhưng các bên  phải có các giấy để chứng minh đủ điều kiện để tham gia giao dịch.

Nếu thừa kế nhà ở thuộc diện được tặng cho thì phải có văn bản hoặc hợp đồng tặng cho được lập hợp pháp kèm theo giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên tặng cho (nếu có).

Trường hợp thừa kế nhà ở thuộc diện mua, thuê mua thì phải có hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hợp pháp kèm theo giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở hoặc chứng minh việc đầu tư xây dựng nhà ở của bên bán, bên cho thuê mua.

Thừa kế nhà ở thuộc diện đầu tư xây dựng mới thì phải có GPXD và giấy tờ chứng minh có quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định. Nếu thừa kế nhà ở theo quyết định của TAND thì phải có bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

ảnh 1Nhiều dự án nhà ở xã hội đã được triển khai xây dựng thời gian qua (ảnh minh họa)

- Bán nhà ở xã hội: Khoản 4 Điều 62 Luật Nhà ở 2014 quy định, bên thuê mua, bên mua nhà ở xã hội không được bán lại nhà ở trong thời hạn tối thiểu 5 năm, kể từ thời điểm thanh toán hết tiền thuê mua, tiền mua nhà ở; trường hợp trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày bên mua, bên thuê mua đã thanh toán hết tiền mua, thuê mua nhà ở mà có nhu cầu bán nhà ở này thì chỉ được bán lại cho đơn vị quản lý nhà ở xã hội đó hoặc bán cho đối tượng thuộc diện được mua nhà ở xã hội nếu đơn vị này không mua với giá bán tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm, thời điểm bán.

Dù không bắt buộc phải có Giấy chứng nhận nhưng với trường hợp này phải có hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng thuê mua nhà ở ký với chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội kèm theo biên bản bàn giao nhà ở và giấy tờ chứng minh đã thanh toán hết tiền mua hoặc tiền thuê mua nhà ở cho chủ đầu tư.

Đối với quyền sử dụng đất, Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định, người sử dụng đất được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất của mình cho người khác phải có Giấy chứng nhận, trừ 2 trường hợp:

- Theo Khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai 2013, khi tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận nhưng được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế.

- Nhận thừa kế theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Luật  Đất đai 2013: Người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.

 Như vậy, với trường hợp này chỉ cần đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận các bên sẽ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top