Vẫn chỉ nóng trên văn bản

0 Ngân Tuyền
(ANTĐ) - Sản xuất rau an toàn (RAT) được đưa ra bàn bạc đã nhiều năm, nhiều  văn bản, quy định liên quan đến RAT đã được ban hành. Song năm này qua năm khác, việc triển khai quy hoạch vùng sản xuất RAT tập trung khu vực đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) vẫn “dậm chân tại chỗ”.

Sản xuất rau an toàn:

Vẫn chỉ nóng trên văn bản

(ANTĐ) - Sản xuất rau an toàn (RAT) được đưa ra bàn bạc đã nhiều năm, nhiều  văn bản, quy định liên quan đến RAT đã được ban hành. Song năm này qua năm khác, việc triển khai quy hoạch vùng sản xuất RAT tập trung khu vực đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) vẫn “dậm chân tại chỗ”.

Rau an toàn đang là đòi hỏi bức thiết

Ì ạch quy hoạch vùng sản xuất

Thống kê của Cục Trồng trọt cho thấy, tổng diện tích trồng rau cả nước đến năm 2008 là 722.000 ha, trong đó, miền Bắc đạt 390.000 ha. Tuy nhiên, diện tích vùng sản xuất RAT tập trung được quy hoạch còn rất thấp, cả nước mới chỉ đạt khoảng 8-8,5%. Đặc biệt, toàn vùng ĐBSH mới đạt hơn 14.000 ha, chủ yếu ở Hà Nội với gần 7.000 ha, Hải Phòng 2.500 ha, Hải Dương 3.000 ha… Trong hơn 14.000 ha được quy hoạch để phát triển vùng sản xuất RAT tập trung mới chỉ có hơn 670 ha được chứng nhận đủ điều kiện sản xuất RAT, không tăng so với năm 2007.

Vùng ĐBSH cũng đã hình thành vùng liên kết sản xuất RAT hơn 10 năm nay với diện tích trồng rau là 100.000 ha gồm các tỉnh: Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Bắc Ninh. Song đến nay, kết quả làm được không nhiều.

Trong khi đó, kết quả kiểm tra, giám sát về sản xuất RAT vùng ĐBSH trong 6 tháng đầu năm 2009 tại một số tỉnh như: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam… cho thấy, 22/28 mẫu rau đã lấy làm xét nghiệm có hàm lượng chì cao hơn mức cho phép, 14/28 mẫu rau phân tích có hàm lượng nitrat cao hơn mức quy định, 19/28 mẫu có chứa E.coli, 27/28 mẫu có chứa  Coliform.

Ông Phạm Đồng Quảng - Phó Cục trưởng cục Trồng trọt phân tích, sản xuất RAT mặc dù là vấn đề rất nóng song thời gian qua vẫn chưa được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành, sự phối hợp giữa các ngành liên quan: nông nghiệp, thương mại và y tế chưa chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc đầu tư hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh RAT còn rất nhỏ, một số tỉnh, thành đã xây dựng đề án, dự án nhưng đến nay chưa được phê duyệt. Ông Quảng nhận định: “Vấn đề quy hoạch vùng sản xuất RAT tập trung chúng ta đã đề cập đến rất nhiều, đã qua bao kỳ hội nghị nhưng vẫn “dậm chân tại chỗ”. Tỷ lệ quy hoạch đã thấp nhưng diện tích đủ điều kiện sản xuất RAT đã được cấp giấy chứng nhận lại càng thấp”.

Ông Doãn Anh Tuấn - Phó Giám đốc Sở NN&PTN Hưng Yên cho biết, Hưng Yên hiện có hơn 12.000 ha sản xuất rau, song đến nay, vẫn chưa có quy hoạch vùng sản xuất RAT cũng như chưa tổ chức cấp giấy chứng nhận vùng đủ điều kiện sản xuất RAT. Dự án sản xuất RAT tập trung của  Hưng Yên được Sở NN&PTNT xây dựng từ năm 2004, nhưng vẫn chưa được duyệt. Theo ông Tuấn, nguyên nhân do việc quy hoạch vùng RAT rất khó khăn, đội ngũ cán bộ quản lý không đủ năng lực để xây dựng, ban hành các văn bản liên quan đến sản xuất RAT. Dự án đưa ra nhưng cán bộ thẩm định, duyệt dự án lại không có chuyên môn. Thành thử, dự án cứ đưa ra lại bị trả về đơn vị soạn thảo.

Cần bắt tay vào cuộc

Ông Nguyễn Trí Ngọc - Cục trưởng Cục Trồng trọt cho rằng, nhận thức về RAT từ cán bộ quản lý, bà con nông dân đến thị trường còn hạn chế nên chưa  thực sự tạo thành một áp lực, một nhu cầu về RAT. Từ nhiều năm nay, văn bản đã có rất nhiều, đặc biệt năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã có QĐ 107/QĐ-TTg ngày 30-7-2008 ban hành một số chính sách hỗ trợ, phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn đến năm 2015.

Đến nay đã được 1 năm, nhưng QĐ đi vào cuộc sống lại rất hạn chế, nhiều địa phương còn lúng túng, không biết tham mưu, thực hiện như thế nào để sản xuất RAT của địa phương có hiệu quả. Ông Ngọc nhận định: “Việc sản xuất RAT nếu không nhận được sự quan tâm đồng bộ từ Trung ương đến địa phương thì chúng ta cũng chỉ  dừng lại ở sự hô hào”.

Đồng tình với quan điểm trên, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và môi trường - Bộ NN&PTNT, ông Lê Văn Bầm cho rằng, năm 1996 chúng ta đã bắt đầu làm RAT, song đã 15 năm trôi qua, chúng ta mới chỉ có 5% RAT, với khoảng 8% diện tích được chứng nhận vùng đủ điều kiện sản xuất RAT. “Chuyển biến như vậy là quá chậm, nếu chúng ta cứ duy trì  tốc độ và phương pháp làm RAT như hiện nay thì mãi mãi chúng ta sẽ không có RAT”.

Theo ông Lê Văn Bầm, một trong những nguyên nhân gây mất an toàn trên rau, quả là việc lạm dụng thuốc BVTV. Kết quả kiểm tra, giám sát dư lượng thuốc BVTV trên rau, quả thời gian qua cho thấy, 31% số mẫu nho được kiểm tra có hàm lượng thuốc BVTV vượt ngưỡng tối đa cho phép, ở rau là 21%. “Bản thân tôi trong quá trình kiểm tra đã từng thấy rất nhiều trường hợp, buổi sáng bà con phun thuốc cho rau song chiều đã thu hoạch mang ra chợ bán”, ông Bầm nói.

Tại hội nghị phát triển RAT vùng ĐBSH diễn ra tại Hưng Yên vào sáng qua 28-7, hầu hết ý kiến đều cho rằng, muốn sản xuất RAT phải đầu tư đồng bộ từ sản xuất đến tiêu thụ. Thực tế cho thấy, việc đầu tư trong lĩnh vực sản xuất RAT thời gian qua còn nặng về quản lý hành chính, tập huấn cán bộ, khâu tổ chức sản xuất bị xem nhẹ. Mặt khác, một số văn bản, chính sách, quy định về sản xuất RAT còn nặng tính khoa học, như đánh đố người nông dân...

Ngân Tuyền

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top