Học nghề - hướng đi trong tương lai

0 T.Quân - H.Loan - A.Quân
(ANTĐ) - Trường hợp không thi đỗ đại học (ĐH) mới chuyển sang học nghề là một thực trạng dễ nhận thấy trong nhận thức của đa số người Việt Nam hiện nay. Ngược lại, ở một số nước phát triển, nhiều sinh viên, học sinh học nghề sau khi ra trường đều dễ kiếm việc làm, với mức lương thậm chí cao hơn cả sinh viên tốt nghiệp ĐH. Thực tế đó khẳng định hướng đi trong tương lai của các học sinh Việt Nam bằng con đường học nghề là rất chính đáng và cần thiết.

Học nghề - hướng đi trong tương lai

(ANTĐ) - Trường hợp không thi đỗ đại học (ĐH) mới chuyển sang học nghề là một thực trạng dễ nhận thấy trong nhận thức của đa số người Việt Nam hiện nay. Ngược lại, ở một số nước phát triển, nhiều sinh viên, học sinh học nghề sau khi ra trường đều dễ kiếm việc làm, với mức lương thậm chí cao hơn cả sinh viên tốt nghiệp ĐH. Thực tế đó khẳng định hướng đi trong tương lai của các học sinh Việt Nam bằng con đường học nghề là rất chính đáng và cần thiết.

Hệ thống dạy nghề trong những năm qua đã phát triển mạnh và đa dạng ở các hình thức đào tạo nghề ở cả 3 cấp trình độ: Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề vào Cao đẳng nghề. Hiện tại cả nước có 262 trường dạy nghề, 559 trung tâm và hơn 1.000 cơ sở doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề…

Năm 2010, hệ thống các trường dạy nghề trong cả nước (từ Sơ cấp đến CĐ dạy nghề) đào tạo khoảng 6,5 triệu lao động, trong đó đào tạo khoảng 25 đến 30% lao động tay nghề kỹ thuật cao (bậc Trung cấp, CĐ). Hiện nay, các khu kinh tế, khu công nghiệp trong nước đang có nhu cầu tuyển dụng người lao động các ngành nghề như: gò hàn bậc cao, cơ khí, lắp ráp, xây dựng dân dụng, công nghệ thông tin, điện - điện tử, các ngành nghề lĩnh vực công nghiệp đóng tàu, lọc - hóa dầu… với số lượng lớn. Mỗi năm ngân sách nhà nước chi khoảng 7% (tương đương 4.900 tỷ đồng) nguồn kinh phí cho công tác đào tạo nghề. Dự kiến giai đoạn 2010-2015, nguồn kinh phí chi cho lĩnh vực đào tạo nghề trên phạm vi cả nước sẽ được điều chỉnh lên 12,5 % (tương đương 26.000 tỷ đồng). 

Quy mô tuyển sinh giai đoạn 2001-2007 tăng bình quân 6,5%/năm, đã dạy nghề cho tổng số 8,1 triệu người, tuyển sinh 56.000 sinh viên hệ CĐ nghề, 255.000 học sinh hệ Trung cấp nghề và Sơ cấp nghề.

Quy mô tuyển sinh hàng năm như trên nhưng hiện tại vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu lao động qua đào tạo nghề, nhất là Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề trình độ cao.

Để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật cao phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, sự nghiệp dạy nghề đã từng bước đổi mới và phát triển trên mọi mặt: Tăng quy mô đào tạo; điều chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo theo sát cơ cấu ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Mở thêm nhiều ngành nghề mới mà thị trường có nhu cầu; cải thiện các điều kiện đảm bảo chất lượng; tăng cường và thu hút đầu tư cho dạy nghề; hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh cho hoạt động dạy nghề…

Ông Nguyễn Tiến Dũng, Tổng Cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động - Thương Binh & Xã hội

Quy mô đào tạo nghề ngày càng mở rộng

- Học sinh tốt nghiệp THPT đều dự thi ĐH, thi trượt rồi thi lại nhiều lần rất mất thời gian và tốn kém về vật chất. Sự lựa chọn cuối cùng mới là giải pháp học nghề, ông lý giải thế nào về thực trạng trên?

- Đây là một vấn đề mang tính xã hội cao. Thứ nhất, theo tôi việc học sinh mong muốn thi đỗ ĐH là những nguyện vọng của tuổi trẻ, không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Việc có đạt được nguyện vọng hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, mà yếu tố chính là bản thân các em.

Nếu các em không có đủ tri thức cần thiết mà cứ lao vào căn bệnh “sính đại học” thì đó là một sai lầm lớn trong việc định hướng và quyết định tương lai của mình.

Vì vậy, việc định hướng nghề nghiệp cho các em từ các cấp học dưới là vô cùng quan trọng, đòi hỏi các cấp, các ngành trong toàn xã hội và gia đình, nhà trường cùng phối hợp tích cực hơn để công tác này có hiệu quả trong thời gian tới.

- Theo ông, nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là tư tưởng của người lao động hay chính sách đào tạo nghề ở nước ta hiện nay?

- Theo tôi là cả hai! Chúng ta phải tăng cường tuyên truyền hiệu quả trong xã hội để thay đổi quan niệm bằng cấp, khoa cử. Đến giờ, tâm lý đó cũng đã bớt nặng nề, và nhiều học sinh cũng đã xác định con đường lập nghiệp của mình là học nghề.

Mặt khác chính sách đào tạo nghề vẫn còn nhiều hạn chế. Chủ trương hiện nay là phân luồng ngay từ cấp THCS, song chúng ta cũng phải có những chính sách vĩ mô để thực hiện nó. Phân luồng thì phải đón các em vào đâu, học nghề gì và làm ở đâu.

Chúng ta phải có chính sách đồng bộ, phải có sự bắt tay của các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là Bộ GD - ĐT, Bộ LĐ - TB & XH và Đoàn thanh niên.

- Thực tế đào tạo nghề nước ta hiện nay phải chăng là các trường “có gì dạy nấy”? Theo ông nên có biện pháp gì để cải thiện?

- “Có gì dạy nấy” là tình trạng của những năm đầu thành lập Tổng cục Dạy nghề. Trong những năm gần đây, dạy nghề đã tạo những bước ngoặt đáng kể. Đào tạo nghề đã mở rộng quy mô, đa dạng về loại hình và linh hoạt trong các phương thức đào tạo.

Cũng không thể nói đào tạo trong nhà trường là không có độ “vênh” với thực tiễn, vì thực tiễn sản xuất là muôn hình vạn trạng, mỗi doanh nghiệp có mức độ đầu tư công nghệ khác nhau.

Chỉ có điều, chúng ta không để rơi vào tình trạng đào tạo rồi, nhưng đưa vào doanh nghiệp lại phải đào tạo lại gần như toàn bộ do không được tiếp xúc với máy móc, hoặc máy móc quá lạc hậu so với thực tế sản xuất. Chúng tôi đang cố gắng thu giảm khoảng cách này.

- Xin cảm ơn ông!


Có thể khẳng định, dạy nghề đang từng bước đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất của thị trượng lao động; dần đảm nhiệm được nhiều vị trí quan trọng trong các ngành sản xuất, kể cả những ngành đòi hỏi kỹ thuật cao, công nghệ phức tạp.

Mùa thi ĐH, CĐ năm 2008 vừa tạm lắng, các thí sinh đang hồi hộp chờ kết quả, và khá đông sỹ tử trong số đó chắc chắn sẽ phải “ngậm ngùi” vì thi trượt.

Sự lựa chọn học ôn lại để sang năm thi tiếp là lựa chọn của số đông các thí sinh, số lượng này lại dồn vào năm sau như một chu kỳ tạo nên những con số “thực” quá tải cho nền giáo dục.


Một bộ phận còn lại tự định hướng cho mình những ngả đường lập nghiệp khác nhau trong đó có việc chuyển sang học nghề.

Vậy tại sao, chúng ta không định hướng và xóa bỏ quan niệm học nghề chỉ là phương án thứ hai cho học sinh khi thi trượt ĐH.

Điều này lẽ ra, đầu mối giải quyết quan trọng nhất là học sinh chưa được định hướng nghề nghiệp đúng đắn, kịp thời từ phía gia đình, xã hội...

Bởi, theo thống kê của các trường dạy nghề trong cả nước, 80% học sinh học nghề ra trường có việc làm ngay hẳn là một con số có trọng lượng đáng để lưu tâm.

T.Quân - H.Loan - A.Quân

Bà Trịnh Mai Hạnh, Cán bộ Phòng đào tạo, Trường Dạy nghề số 10 Bộ Quốc phòng

Nhiều cánh cửa để vào đời

Thực tế học sinh vẫn coi học nghề là lựa chọn cuối cùng bởi lý do tâm lý của người Việt nói chung là học vấn luôn đi cùng với danh dự. Tâm lý đó ảnh hưởng đến việc đại đa số học sinh sau khi tốt nghiệp THPT đều cố thi vào các trường ĐH, CĐ, và khi thi trượt các em mới chuyển sang học nghề.

Một điều thực tế cũng đã chứng minh đó là nhiều học viên có tay nghề cao vẫn có thu nhập ổn định thậm chí còn cao hơn cả người có bằng ĐH. Nhu cầu xã hội hiện nay đang cần nhân lực ở những ngành như cơ khí, điện tử…

Và những học viên sau khi tốt nghiệp những ngành này cơ hội việc làm rất lớn, ổn định với mức thu nhập cao. Điều đó khẳng định cánh cửa ĐH không phải là con đường duy nhất để thành công, trong đó học nghề là một sự lựa chọn đúng.


Ông Trần Duyên Hải, Giám đốc Trung tâm Dạy nghề Nhân đạo

Cần thực tế với cơ hội nghề nghiệp

Hiện nay, học nghề đang là một vấn đề thời sự nóng bỏng của xã hội. Nhưng để định hướng được nghề nghiệp cho học sinh hiện nay thì gia đình và nhà trường cần có một cái nhìn thực tế hơn về cơ hội nghề nghiệp cho học sinh, bởi đâu chỉ vào ĐH mới có việc làm ổn định. Việc học nghề ở nước ta hiện nay vẫn chưa có tính đồng bộ.

Ví dụ học sinh thường đổ xô vào học một số ngành chạy theo mốt của xã hội, khi đào tạo xong ra trường nhu cầu của thị trường không đủ đáp ứng, trong khi những ngành khác còn thiếu thì không có học sinh theo học, nên việc mất cân đối trong đào tạo ngành nghề rất lớn. Vì vậy, mỗi năm các Bộ, ngành cần có sự khảo sát thực tế về nhu cầu nhân lực của xã hội để đào tạo nghề sát với nhu cầu thực tế.

Những ngành có nhiều cơ hội việc làm hiện nay đó là cơ khí, điện… và đặc biệt là ngành đóng tàu. Ngoài ra, Đảng và Nhà nước cũng cần quan tâm đến việc đào tạo nghề cho người khuyết tật để họ có cơ hội hòa nhập với cộng đồng và lao động bằng chính năng lực của họ.

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top