Bí mật chuyện Mỹ dùng công nghệ định vị thủy âm phát hiện tàu ngầm hạt nhân Nga

  • 26/11/2017 08:42
  • 0 bình luận
  • Hoàng Tiến
  • In bài
ANTD.VN - Tài liệu của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cho biết, từ những năm 1980, tàu ngầm Liên Xô (cũ) không sử dụng công nghệ định vị thủy âm như tàu ngầm của Mỹ mà vẫn theo dõi chính xác vị trí tàu ngầm đối phương. Bí mật công nghệ này là gì? Nguyên lý hoạt động của hệ thống theo dõi này ra sao?
Tàu ngầm hạt nhân USS Simon Bolivar của Mỹ từng bị tàu ngầm của Liên Xô theo dấu vết

Tàu ngầm hạt nhân USS Simon Bolivar của Mỹ từng bị tàu ngầm của Liên Xô theo dấu vết

Tiết lộ chấn động nói trên được CIA công bố hồi tháng 6-2017. Trong nghiên cứu khoa học, để đi đến đích có nhiều con đường khác nhau. Có người tưởng rằng phương cách mà họ tìm ra là con đường ngắn nhất thì bỗng dưng phát hiện và thán phục trước cách lý giải khác bởi sự thông minh đến lạ kỳ. Đó là cảm giác của giới khoa học quân sự phương Tây và Mỹ khi phát hiện ra thiết bị bí ẩn của Liên Xô theo dõi tàu ngầm Mỹ từ những năm 1980.

Hé lộ bí mật từ cuộc rượt đuổi

Cuối những năm 1980, Liên Xô công bố một chiến tích: K-147 - chiếc tàu ngầm tấn công hạt nhân lớp Victor đã bí mật bám theo vệt di chuyển của một tàu ngầm hạt nhân Mỹ, USS Simon Bolivar, trong một cuộc rượt đuổi dưới nước kéo dài tới 6 ngày. Rất nhiều chuyên gia quân sự cho rằng đó là điều bất khả thi.

Giới quan sát Mỹ thời điểm đó cho rằng Liên Xô vẫn còn rất thiếu các công nghệ định vị thủy âm (sonar) hiệu quả, nhất là so với Mỹ và các nước đồng minh NATO. Nhưng ngay sau đó, họ mới vỡ lẽ tàu ngầm “thợ săn” như K-147 đã thực hiện được sứ mệnh bí mật bám đuôi các tàu ngầm Mỹ mà không cần sử dụng sonar.

Phòng Tình báo Khoa học và Công nghệ của CIA đã nghiên cứu về khả năng tác chiến ngầm của Liên Xô từ năm 1972. Báo cáo này được giải mật vào mùa hè 2017. Thậm chí, dù đã 45 năm trôi qua, nhiều dòng, đoạn, thậm chí cả trang giấy trong báo cáo bị tẩy xóa, nó vẫn cho thấy tàu ngầm của Nga hoàn toàn có năng lực theo dấu vết tàu Mỹ như vụ năm 1980.

Một phần khá dài tiết lộ về công nghệ mà Liên Xô đang phát triển khi đó cho thấy nhiều chi tiết chưa từng được biết đến trước đây về loại thiết bị mà ở phương Tây không có loại nào tương ứng. Trong khi NATO dồn cả trí tuệ và công sức vào hệ thống sonar thì người Liên Xô lại phát triển một công nghệ hoàn toàn khác.

Vị trí gắn SOKS, thiết bị bí mật, trên tàu ngầm trinh sát của Nga

Vị trí gắn SOKS, thiết bị bí mật, trên tàu ngầm trinh sát của Nga

Tàu ngầm trên thế giới đều sử dụng sonar

Sonar là một kỹ thuật sử dụng sự lan truyền âm thanh (thường là dưới nước) để tìm đường di chuyển, liên lạc hoặc phát hiện các đối tượng khác trong nước như luồng cá, tàu bè, vật thể trôi nổi hoặc chìm trong bùn cát đáy...

Sóng vô tuyến của các loại radar phát huy tốt trên không nhưng nó lại trở nên vô dụng ở dưới nước vì nước là vật cản của loại sóng này. Ngược lại, sonar phát ra sóng âm thanh có khả năng truyền tốt trong môi trường nước hơn là trên không. Vì vậy, ngay từ Thế chiến thứ I, sonar đã được sử dụng để săn tìm tàu ngầm. Tùy thuộc từng điều kiện, sonar có thể phát hiện được một tàu ngầm từ khoảng cách nhiều hải lý, ở bất cứ hướng nào.

Mỹ và đồng minh đã phát triển các hệ thống sonar tinh vi, hiệu quả tới mức các biện pháp phát hiện tàu ngầm khác đều bị bỏ qua hoặc bị lãng quên. Trong nhiều thập kỷ, các giải pháp phi sóng âm đều bị coi là thua kém hơn so với sonar do hạn chế về tầm vươn xa và mức độ tin cậy. Thế nhưng người Mỹ đã nhầm. Với Liên Xô, đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Sở hữu kỹ thuật điện tử lạc hậu hơn, họ tìm ra hướng đi của riêng mình. Thay vì sonar, họ đã phát triển được các giải pháp phát hiện tàu ngầm cực kỳ thông minh.

Một màn hình Sonar cho thấy các vật thể dưới tầng mặt nước

Một màn hình Sonar cho thấy các vật thể dưới tầng mặt nước

SOKS - công nghệ gây thán phục

Báo cáo của CIA nêu rõ: Liên Xô sử dụng hệ thống phát hiện sóng dao động gọi là SOKS (System Obnarujenia Kilvaternovo Sleda) đầy bí ẩn. Được lắp đặt cho các tàu ngầm tấn công, thiết bị này bám theo vệt rẽ nước mà tàu ngầm đối phương để lại phía sau. SOKS xuất hiện trong các bức ảnh chụp tàu ngầm của Nga, nhìn giống như những chiếc đinh nhọn hoặc đầu đạn cỡ to gắn bên ngoài thân tàu.

Liên Xô tuyên bố có thể theo dõi được các tàu ngầm mà không cần tới sonar. Khi không biết SOKS hoạt động như thế nào thì người ta dễ đưa ra nhận xét Liên Xô đang nói quá về khả năng của họ. Có một số đồn đoán cho rằng SOKS đã đo đạc những thay đổi về mật độ nước hoặc phóng xạ thu được hay thậm chí sử dụng cảm biến laser.

Dù không nắm rõ nhưng điều mà phương Tây chắc chắn  là SOKS xuất hiện lần đầu tiên năm 1969 trên chiếc K-14, một tàu ngầm lớp November. Sau đó, nhiều biến thể với các bí danh như Colossus, Toucan và Bullfinch đã từng xuất hiện trên mỗi thế hệ tàu ngầm tấn công mới của Liên Xô và Nga, gồm cả lớp Akula và Yasen.

Theo các tài liệu mới được giải mật, những tin đồn ngày trước chính xác ở một điểm, đó là Liên Xô đã không chỉ phát triển một mà là một vài thiết bị phát hiện tàu ngầm. Họ có công cụ thu các nuclit phóng xạ vương lại từ máy phát điện hạt nhân của tàu ngầm hay một công cụ khác gọi là “quang phổ kế tia gamma” phát hiện vệt các nguyên tố phóng xạ còn lưu lại trong nước biển.

Báo cáo cũng mô tả các tàu ngầm khi di chuyển bỏ lại đằng sau một loại hỗn hợp các chất hóa học trong đường rẽ nước. Hỗn hợp này bao gồm: Các cực điện dương ngăn ngừa sự ăn mòn vỏ tàu để lại kẽm trong nước biển; các hạt nhỏ niken thoát ra từ đường ống làm mát lò phản ứng; hệ thống tạo oxy cho phi hành đoàn sản sinh ra lượng hydro vẫn còn có thể phát hiện được khi hòa tan trong nước biển. Các dấu vết hóa học này có thể chỉ đạt 10 phần tỷ trong nước biển, nhưng các thiết bị tinh vi có thể tìm thấy chúng.

Một lò phản ứng hạt nhân thường lưu lại phía sau hàng tấn nhiệt. Theo báo cáo trên, một tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân cỡ lớn phải cần tới “vài ngàn   gallon chất lỏng làm nguội mỗi phút”. Loại nước dùng để làm mát tàu ngầm này có thể nóng hơn nước biển xung quanh 10 độ C, tạo ra một sự biến đổi về chỉ số khúc xạ của nước và sự thay đổi này có thể phát hiện được bằng một hệ thống liên lạc quang học.

Quá nhiều dấu vết để lại khi một chiếc tàu ngầm hạt nhân di chuyển. Cho dù các dấu vết này quá nhỏ và khả năng thu được nó rồi phân tích có xác suất vô cùng nhỏ nhưng  Liên Xô đã làm được điều tưởng như không tưởng đó. “Một hệ thống định vị dựa vào kỹ thuật này có thể phát hiện các sóng dao động sau cả vài giờ khi tàu ngầm đã đi qua. Người Liên Xô đã thành công sau các thử nghiệm phát hiện chính các tàu ngầm hạt nhân của họ bằng hệ thống như vậy”, tài liệu của CIA cho biết. 

Sự thực hay hư cấu?

Kỹ thuật dạng này dựa trên cơ sở khoa học và có tính khả thi nhưng không có chứng cứ nào cho thấy loại nào là lý thuyết và loại nào thực sự đã được sử dụng. “Báo cáo đặt quá nhiều sự tin tưởng vào các hệ thống phát hiện tàu ngầm mà nhiều người vẫn cho rằng nó  hoang tưởng”, chuyên gia phân tích quốc phòng Jacob Gunnarson nói với tờ Popular Mechanics.

Năm 1994, một nghiên cứu của Mỹ nêu rõ: Các cảm biến sẽ không chỉ nói đơn giản rằng “đó là chiếc tàu ngầm” mà sẽ thu về một chuỗi dữ liệu số. Để lọc ra dấu hiệu một chiếc tàu ngầm từ tiếng động trong kho dữ liệu đó, phải cần tới một siêu máy tính công suất lớn. Trong khi công nghệ vi mạch và số hóa những năm 1970 của Liên Xô còn lạc hậu, còn xa mới bắt kịp lĩnh vực này.

Ngày nay, Nga có thể sở hữu các máy tính thương mại mạnh gấp hàng nghìn lần, ngang tầm với bất cứ máy tính nào trên thế giới. Có thể người Nga đã thừa kế và gia tăng đáng kể tính năng cho SOKS. Các phiên bản mới của những công nghệ này chắc chắn đã ưu việt hơn rất nhiều “bậc tiền bối” từ thời Liên Xô. Hiện vẫn chưa rõ liệu Nga có theo dõi được các tàu ngầm của Mỹ và Mỹ đã tìm được cách thức đối phó hay chưa. Có lẽ, sẽ cần phải chờ hàng chục năm nữa mới lại có câu trả lời và khi đó, trên tài liệu giải mật, nhiều thông tin có lẽ vẫn sẽ bị xóa.

Theo Popularmechanics

Tin cùng chuyên mục